Sự thú vị trong Tiếng Trung

0
2207
Sự thú vị trong Tiếng Trung - Học Ngữ pháp Tiếng Trung
Sự thú vị trong Tiếng Trung - Học Ngữ pháp Tiếng Trung
Sự thú vị trong Tiếng Trung
Hãy Bình chọn Bài viết này

Trong quá trình Học Tiếng Trung, chắc là các bạn đã gặp vấn đề dở khóc dở cười này rồi đúng không nhỉ. Đó chính là 好容易” và “好不容易 trong Tiếng Trung liệu có gì khác biệt không mà sao nhiều người vẫn đang tranh luận rất sôi nổi.

Chúng ta cùng phân tích và tìm hiểu xem nhé.

容易 là một hình dung từ, có nghĩa là “dễ”.

Ai cũng biết “不容易” có nghĩa phủ định của “容易”, nghĩa là không dễ.

Thế nhưng khi đi chung với “好” thì nghĩa của cả hai là như nhau.
“好容易” = “好不容易” đều có nghĩa là “khó khăn lắm”

Trong tiếng Hán, ta thường gặp một số từ tổ, thoạt nhìn cứ tưởng chúng là phản nghĩa của nhau (như hai từ trên):

“入神” và “出神” (vào và ra đối lập nhau)
“作下来” và “作下去” (đến và đi đối lập nhau)
“月亮地下” và “月亮地上” (trên và dưới đối lập nhau)
“打胜了对方” và “打败了对方” (thắng và bại đối lập nhau)

Thế nhưng khác với chúng ta nghĩ, các từ tổ đó có cùng một nghĩa như nhau hoặc tương đương.

Ở câu 1, ví dụ nói: “Nó làm việc đó một cách xuất thần / nhập thần”, nghĩa là
làm việc gì đó đến quên hết không gian và thời gian xung quanh.
Ở câu 2, đối tượng được nói đến và người nói đang ở vị trí ngang hàng một cách tương đối, do đó 来 hay 去 trong trường hợp này đều như nhau.
Ở câu 3, cũng như trong tiếng Việt, ta nói “ánh trăng sáng trên mặt đất” là khi dùng “đất” và “trăng” làm đối tượng nói đến, còn “ánh trăng sáng dưới đất” là khi lấy “ta” làm trung tâm, nhìn ánh trăng “dưới” đất. Ý nghĩa như nhau.
Ở câu 4, cũng vậy, tiếng Việt nói “Đánh thắng đối thủ” và “Đánh bại đối thủ” là như nhau.

Trong câu 4 ở trên, nếu lấy hai đối tượng là A và B làm ví dụ.
“A打胜了B”
“A打败了B”
Trường hợp 1: Ai đánh? A đánh. Ai thắng? A thắng.
Trường hợp 2: Ai đánh? A đánh. Ai bại? B bại.
Rõ ràng chúng như nhau, A đánh thắng và B bị bại.

Ngoài ra còn có hiện tượng phủ định rõ ràng, nhưng chúng lại cùng chung ý nghĩa. Ví dụ:

“好喜欢” tương đương “好不喜欢” đều là “很喜欢” (rất yêu thích)
“好热闹” tương đương “好不热闹” đều là “很热闹” (rất nhộn nhịp)
“好容易” tương đương “好不容易” đều là “很不容易” (khó khăn lắm)
“差点儿摔倒” tương đương “差点儿没摔倒” đều là “险些儿摔倒” (xém té)
“解放前” tương đương “未解放前” đều là “新中国成立前” (trước giải phóng)

Tại sao có hiện tượng này? Đây là một đặc điểm của tiếng Hán. Điều này do ảnh hưởng của thói quen, dùng nhiều thành đúng. Ngôn ngữ như con đường, vốn trên đất làm gì có con đường nào, nhiều người đi thì thành con đường, từ đó ai cũng đi trên đó, mấy ai đi ra ngoài con đường ấy đâu?

Nhiều lúc sai nhưng nhiều người dùng quen, thành ra ai cũng chấp nhận thành đúng.

Ngoài ra, các bạn nên xem thêm bài viết về Tên các Quận và Huyện tại thành phố HCM trong Tiếng Trung theo link bên dưới.

Một số tên Quận Huyện của TP HCM

LEAVE A REPLY